Chúa Nhật 3

Mùa Chay

Năm A

 

Gặp gỡ Đức Kitô: thay đổi!

Vào mỗi Mùa Chay cả GH cùng ăn chay, hãm mình, làm phúc, dâng cúng, và mong chờ Đấng Cứu Thế của nhân loại phục sinh. Các bài đọc hôm nay nói đến nước. Nước tượng trưng cho sự sống như trong BĐI, sách Xuất Hành khi Chúa sai Mosê cầm gậy đập vào tảng đá để có nước cho dân chúng và súc vật uống; Nước còn dùng để rửa sạch tội lỗi con người trong bí tích Rửa Tội; Và nước cũng là hình ảnh của Nước Hằng Sống trong sách Khải Huyền (22:1) mà Thánh Gioan “thấy một con sông chứa nước trường sinh” của cảnh Thiên đàng. Trên Thánh Giá khi một người lính cầm lưỡi đòng đâm vào cạnh sườn của Chúa, Kinh thánh viết lại, “tức thì máu cùng nước chảy ra.” Máu là máu của bí tích Mình Máu Chúa và Nước là nước của bí tích Rửa Tội.

Bài Tin Mừng kể một câu chuyện hết sức cảm động và ý nghĩa súc tích vể Ơn Cứu Độ qua sự đối thoại giữa Chúa Giêsu với người phụ nữ Samari. Thánh Gioan kể Chúa gặp một người đàn bà “ngoại giáo” Samari bên bờ giếng Giacop. Câu chuyện Ơn Cứu Độ là Chúa Giêsu gặp gỡ người phụ nữ bên bờ giếng hôm nay làm chúng ta nhớ lại trong Cựu Ước sách STK, trước khi Abraham mất, ông sai gia nhân đi từ đất hứa Canaan về lại cố hương để kiếm cho con trai ông là Isaac một người vợ. Gia nhân đã gặp gỡ một cô gái xuân thì, trong trắng Rebecca ra múc nước bên bờ giếng làng. Và ơn cứu độ của Thiên Chúa đã xuống trên Isaac và Rebecca là dòng dõi của Abraham.

Chúa Giêsu tuy ngồi nghỉ mệt ở bờ giếng Giacop sau một thời gian dài đi bộ, nhưng Chúa đã quên mình để săn sóc đến nhu cầu thiêng liêng của người khác. Ngài đối thoại với chị ta tất cả 7 lần, nhiều nhất với bất cứ ai trong Kinh thánh. Mà người đàn bà nầy lại là một phụ nữ hèn mọn bị xã hội khinh chê. Theo luật thời đó thì đàn ông đứng đắn không được giao tiếp với đàn bà, nhất là đàn bà ngoại giáo. Chúa Giêsu thì khác, Ngài đảo ngược cả xã hội đương thời bằng cách đi ngược lại thông lệ. Ngài trò chuyện với phụ nữ trong một xã hội mà “nam nữ thọ thọ bất thân” như Việt-Nam ta ngày xưa. Ngài sẵn sàng đánh đổ mọi luật lệ, hủ tục cản trở tình thương giữa Thiên Chúa với con người, hay giữa người với người. Hơn thế nữa, đây lại là một phụ nữ bị khinh rẽ. Chị đang bị những phụ nữ khác trong làng xa lánh. Chị phải ra giếng kín nước vào giữa trưa, là “giờ thứ 6” như Gioan viết, giờ chỉ dành cho đàn ông, thay vì vào buổi sáng hoặc buổi chiều dành cho phụ nữ khác. Chúa từ từ soi sáng cho chị qua lời đối thoại hấp dẫn của chân lý. Người đàn bà chăm chú nghe và từ từ đổi cách xưng hô: bắt đầu gọi Chúa là “ông,”chuyển đến gọi là “ngài,” tới “Đấng tiên tri,” và cuối cùng gọi đích danh là “Đức Kitô.”

Sự gặp gỡ Chúa Kitô đã làm thay đổi chị ta để rồi từ mặc cảm về hôn nhân đến hướng tới sự công chính tốt lành thánh thiện khi chị nói đến cha ông của chị thờ phượng Thiên Chúa. Và Chúa Giêsu, Đấng tự xưng mình là Đấng Cứu Thế, kết luận: “Ai thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý tức là thờ phượng theo đúng Thánh Ý Chúa Cha.”

Sau khi lãnh nhận ân sủng từ Đấng Cứu Thế, người đàn bà hoán cải không giữ riêng cho mình nhưng đã nghĩ đến những người khác bằng cách chạy vội vào làng để loan báo Tin Mừng, và kêu dân làng ra tung hô Chúa là Đấng Cứu Thế. Đức Tin đích thực của chị đã trút bỏ mọi mặc cảm và ngại ngùng trước đây.

Suy nghĩ về đời sống tâm linh của mỗi cá nhân, chúng ta có dành thì giờ cầu nguyện, để nghe Chúa nói với chúng ta vể những khuyết điểm trong tim đen chưa? Và trong hành trình đức tin, chúng ta có can đảm làm chứng nhân, loan báo Tin Mừng của Chúa trong môi trường chúng ta đang sống như người phụ nữ Samari hay không?                                             

PT Phêrô Đặng Phi Hùng