Chúa Nhật 3

Phục Sinh

Năm C

 

Sứ mạng rao giảng Tin mừng Phục sinh

Anh chị em thân mến,

Nhìn vào số các môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta thấy đa số các ngài là những ngư phủ, những người làm nghề chài lưới đánh cá ở Biển Hồ Tibêria. Họ đã bỏ tất cả nghề nghiệp để đi theo Chúa, họ đã sống với Chúa và ấp ủ một tương lai huy hoàng. Nhưng sau khi Chúa bị bắt và bị giết chết thì mọi hy vọng của họ gần như tiêu tan. Và rồi Ngài đã sống lại, Ngài đã hiện ra với họ, không phải một lần, nhưng tới hai lần liên tiếp: một lần vào chính ngày phục sinh và một lần sau đó một tuần. Đó là không kể những lần hiện ra với những người khác. Dầu vậy họ vẫn còn ngờ ngợ và nghi ngờ. Rồi họ trở về Galilêa để chờ đợi gặp Chúa như Chúa đã căn dặn. Nhưng chờ đợi mãi mà không thấy gì, họ rủ nhau đi đánh cá. Đoàn đánh cá hôm đó có tất cả bảy người: Phêrô, Tôma, Nathanaen, Giacôbê, Gioan và hai môn đệ khác không kể rõ tên.

Nhưng ngay đêm đầu tiên ra quân này, họ không bắt được gì. Giữa lúc ấy, Chúa Giêsu hiện đến bên họ mà họ không nhận ra Ngài. Như vậy, họ cũng chẳng hơn gì Maria Mađalêna và cũng chẳng khác với hai môn đệ trên đường Emmau. Mãi sau khi Chúa cho bắt được một mẻ cá lạ và nhất là trong bữa ăn sáng sau đó, khi Chúa cầm bánh và cá trao cho họ, cũng một cử chỉ như Chúa đã làm trong bữa tiệc ly, thì lúc đó họ mới không còn nghi ngờ về sự kiện phục sinh của Chúa Kitô. Như vậy, một lần nữa, niềm tin Chúa sống lại nơi các môn đệ được củng cố thêm, và chúng ta cũng được thêm một bằng chứng nữa về Chúa Kitô phục sinh.

Chúa Kitô sống lại là một thực tại chắc chắn, điều này các tông đồ không cần phải tin, vì đích thân các ông đã được cảm nghiệm bằng mắt thấy tai nghe và đụng chạm đến thân xác phục sinh của Chúa. Còn chúng ta, dù không thấy, chúng ta vẫn tin một cách tuyệt đối dựa lên lời chứng của các Tông đồ.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhớ rằng: các tông đồ một khi đã tin nhận sự kiện phục sinh của Chúa Kitô, các ông không giữ lại niềm tin đó cho riêng mình, nhưng đã ra đi rao giảng và làm chứng cho mọi người biết Chúa đã sống lại. Trong bài Tin Mừng hôm nay, có một chi tiết nhỏ nhưng rất hay và có ý nghĩa, đó là con số 153 con cá trong mẻ cá bắt được. Các nhà sinh vật học thời đó đã xác định có 153 loại cá khác nhau. Và theo thánh Giêrônimô, nếu thật như thế thì con số 153 đó bao gồm các loại cá và là hình ảnh mọi quốc gia, mọi dân tộc thuộc mọi thời đại mà Chúa muốn qui tụ vào trong Giáo hội. Như thế, sứ mạng của các tông đồ không phẳi chỉ giới hạn trong xứ Galilêa, Giuđêa, Giêrusalem hay trong phạm vi của nước Do Thái mà thôi, nhưng bao gồm mọi quốc gia, mọi dân tộc...

Cho nên, tất cả các Tông đồ ra đi tuyên xưng mình chính là nhân chứng về cái chết và sống lại của Chúa trước đám đông. Vậy thì một nhóm người, quê mùa, dốt nát, nhát đảm, đóng kín cửa vì sợ, bỗng nhiên trở nên mạnh dạn, liều thân làm chứng Chúa đã phục sinh, không phải là dấu chỉ hay sao? Từ thái độ ẩn trốn, rút lui, lúc này họ bước ra công khai và can đảm đó không phải là một sự thay đổi lớn hay sao?

Vì vậy, chúng ta phải tin rằng ở Giêrusalem, hơn hai ngàn năm trước, đã xảy ra một phép lạ lớn lao, biến đổi các môn đồ Chúa Giêsu từ những người mà hội đồng Do thái tuyên bố là "không chữ nghĩa, thuộc tầng lớp cùng đinh" thành những con người can đảm và uyên bác. Họ bung ra rao giảng và ăn nói mạnh bạo, thông thái không kém các kinh sư, triết gia. Quyền năng họ nhận được ở “căn phòng trên lầu” thúc đẩy họ công bố sứ điệp biến đổi toàn thể loài người. Đức Giêsu đã chết, nay còn đang sống và ơn tha thứ được ban cho “mọi quốc gia”.

Bằng lời nói, các ngài rao giảng mà không sợ bất cứ một áp lực hay một sự đe dọa nào. Mỗi khi rao giảng, các ngài thường hiên ngang tuyên bố: “Chúng tôi xin làm chứng”. Dù đứng trước tòa án cấm đoán, dọa nạt, các ngài vẫn khẳng khái thưa: “Xin quí vị xét cho, phần chúng tôi, chúng tôi không thể không nói về những điều đã thấy, đã nghe”.

Không những làm chứng bằng lời nói, các ngài còn làm chứng bằng việc làm, bằng chính đời sống của mình, tức là sẵn sàng chịu vất vả, khổ cực, đòn vọt, tù ngục, và sẵn sàng chết vì Chúa Giêsu.

Sau 12 tông đồ, đã có biết bao lớp tông đồ khác, trải qua các thời đại, tiếp nối sự nghiệp loan báo Tin Mừng và làm chứng nhân cho Chúa Giêsu. Đến lượt chúng ta hôm nay, mỗi người cũng phải là một chứng nhân. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói: “Mỗi người giáo dân, trong bản chất, là một chứng nhân”. Bởi vì khi chúng ta lãnh nhận phép rửa tội, nhất là phép thêm sức, là chúng ta đã được Chúa Kitô trao sứ mạng làm chứng cho Chúa. Và tất cả chúng ta đều đã biết, cách thức làm chứng tốt nhất là đời sống tốt đẹp của chúng ta. Và trong ý nghĩa đó, mỗi người chúng ta đều được Chúa Kitô mời gọi trở nên tông đồ của Ngài trong môi trường sống của mình. Hay nói cách khác, đời sống của chúng ta, từ tư tưởng, lời nói và việc làm, phải là bằng chứng diễn tả Tin Mừng Phục Sinh của Chúa Kitô cho những người chung quanh.

Rev. Thomas Tuấn Bình, CMC