Tháng Mân Côi (Ngày 10)

Giáo Hội đặt lên môi Đức Maria những lời kiều diễm này của Thánh Kinh:

“Ta mang hoa như cây hồng trên bờ suối”. Xưa nay ta vẫn gọi tháng mười là tháng Mân Côi, Văn Côi, Môi Khôi, Mai Khôi. Cha chính Hương, tác gải tự điển Việt-Hán, gọi là Môi quí, linh mục Phạm Thanh Nhân đặt là tháng Vườn Hồng-La ngữ, Rosarium-Pháp ngữ, rosaire-các danh xưng đều chỉ là Hoa Hồng.

Hoa Hồng là một trong những tượng trưng đẹp Kinh Mân Côi và nhiều mầu nhiệm chứa đựng trong đó.

Hoa màu lửa, lá h́nh trái tim và những hạt vàng tập trung vào ḷng chỉ dấu những người đọc Kinh Mân Côi cháy lên t́nh yêu Chúa hợp nhất trong dây t́nh đồng đạo để một ḷng, một trí, một tiếng đồng ca ngợi và mến yêu Chúa Giêsu và Mẹ Maria.

Lá xanh cây hồng tiêu biểu các Mầu Nhiệm Vui.

Gai, các Mầu Nhiệm Thương.

Hoa, các Mầu Nhiệm Mừng.

Có những hoa chớm nụ: Chỉ Đức Giêsu c̣n thơ ấu.

Có những hoa hé nở: Chỉ Ngài chịu thương khó.

Có những đóa nở to: Chỉ Ngài trong vinh quang.

Ḥa hồng đẹp làm vui thích: đó là Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong mầu nhiệm vui, an ủi các tối nhân.

Có gai góc: đó là Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong mầu nhiệm thương giục ta đau buồn các tội đă phạm.

Hoa tỏa hương dịu dàng: đó là Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong mầu nhiệm mừng thu hút ta ao ước phần rỗi muôn đời.

Hoa hồng lớn lên và nẩy sinh nhờ sương Trời; nở hoa nhờ ánh sáng dương: Mân Côi là một đóa hoa được Thần Trời đưa xuống, trời cho nẩy sinh và phát triển nhờ sương là ân phúc tuôn xuống.

Giai Thoại

Bị quỉ bóp cổ chết v́ t́nh ma chuột.

Linh Mục Anphongsô Andrađa làm nổi bật ḷng lân ái vô biên của Đức Trinh Nữ đối với người chỉ kính tôn Ngài hằng ngày bằng một vài Kinh Kính Mừng với giai thoại sau đây:

Năm 1604, ở Phờlăng (Flandres), một thành phố, phía Đông Bỉ, có 2 sinh viên sao lăng việc đèn sách và sa đà trong các cuộc truy hoan và dâm dục.

Cũng như mọi đêm khác, một đêm kia hai cậu đến nhà một gái giang hồ để thỏa t́nh mây mưa. Rítsa (Richard) về, cậu kia nán lại.

Về nhà, thay quần áo gần xong, Rísta sực nhớ kính Đức Trinh Nữ. Phần mệt nhọc, phần buồn ngủ, chàng phải phấn đấu kích liệt mới đọc mấy Kinh Kính Mừng, đọc không sốt sắng, mắt nhắm mắt mở, rồi chàng lên giường ngủ li b́.

Ngủ được một giấc say sưa, chàng thức dậy v́ có tiếng gơ cửa thật mạnh. Cửa chưa kịp mở, người bạn đă đứng sừng sững trước mặt, diện mạo biến đổi hẳn, thật h́ hợm và không thể nh́n ra được, Rítsa bỡ ngỡ hỏi:

-Mày là ai?

Anh Kia đáp:

-Sao, mày không nh́n ra tao à?

-Nhưng mày làm sao mà thay đổi dữ vậy?

Tao thấy mày như có quỉ.

-A, bất hạnh cho tao, tao đă phải mất linh hồn.

-Tại sao vậy?

-Mày biết, là vừa ra khỏi cái nhà khốn nạn ấy, tao bị một con quỉ vồ lấy và bóp cổ chết tươi. Xác tao nằm sơng soài giữa đường và linh hồn tao sa vào hỏa ngục. C̣n mày, mày nên biết là h́nh phạt đó đang chờ mày. Nhưng Đức Trinh Nữ đă cứu mày khỏi, nhờ một chút tôn kính nghèo nàn là ít Kinh Kính Mừng mày đọc hằng ngày để kính Ngài. Phước cho mày, nếu mày biết lợi dụng lời cảnh cáo của Mẹ Thiên Chúa ban cho mày qua miệng tao.

Hắn vừa nói vừa hé áo tơi để lộ lửa phần phật cháy và bầy rắn lúc nhúc đang xâu xé hắn, rồi biến mất.

Bấy giờ Rítsa sấp mặt xuống đất, khóc ṛng khóc ră để cảm ơn vị Cứu Tinh của chàng; và trong khi nghĩ đến việc đổi đời chàng nghe chuông Kinh Mai ở Ḍng Phanxicô.

Chàng kêu lên: “À, chính đó là nơi Chúa muốn ta vào để ăn năn thống hối.”

Chàng chạy ngay đến Ḍng để xin tu. Các Tu sĩ biết cuộc đời bê bối của đương sự, nhất định không chịu. Nhưng vừa khóc bù lu bù loa, chàng kể tự sự nguồn cơn.

Hai cha Ḍng đến con đường chàng chỉ và thấy ngay thây ma của anh bạn chàng bị bóp họng và đen như  cục than.

Vậy Rítsa được vào nhà Chúa, lấy Kinh Kính Mừng Maria làm hơi thở và của ăn hằng ngày để sống thánh. Một người khác cũng tên là Rítsa chứng kiến biến cố hi hữu đó, đă xin nhập Ḍng Phanxicô, được phái đi truyền đạo ở Nhật Bản và được hỏa thiêu v́ danh Chúa ngày 10 tháng 9 năm 1622. Ngài được phong Á Thánh năm 1867.

Lời Nguyện

Ôi Mẹ Maria chí ái! Kinh Kính Mừng Mẹ đă làm cho bao chuyện lạ! Xin cho Kinh muôn vàn thiên thánh ấy trở nên hơi thở và lương thực của chúng con.