Bài 6. rượu nho và bánh lễ - Đổ nước vào rượu - Rửa tay – miếng bánh nhỏ

 

22. Cử hành Thánh lễ với loại rượu nho và bánh lễ nào?

Qui luật duy nhất là dâng Thánh lễ với rượu nho tự nhiên và nguyên chất, nghĩa là không pha trộn với chất nào khác. Tại nhiều xứ không trồng nho được, người ta sử dụng rượu nho tự nhiên có nồng độ hơi cao một tí, như rượu Porto chẳng hạn, để có thể giữ được lâu.

Bánh lễ phải là bánh miến thuần túy, không men, mới làm. Giáo luật buộc rằng Thánh lễ phải được cử hành với bánh không men (Giáo Luật số 926). Nhưng ngày xưa không hẳn như thế. Vào giữa thế kỷ thứ II, thánh Justinô cho biết là giáo dân đem bánh nướng tại nhà ḿnh đến để dâng trên bàn thờ. Chắc chắn đó là bánh nướng được làm dậy bằng men. Cho tới thế kỷ thứ XI, người ta chấp nhận cả bánh có men lẫn bánh không men để cử hành thánh lễ. Vào giữa thế kỷ XI, Giáo Hội Tây Phương có thói quen chỉ dùng bánh không men.

Tại sao bánh có men được thay dần dần bằng bánh không men?

1. Trước tiên, v́ theo gương Chúa Kitô. Theo các thánh sử Mát-thêu (26:17), Mác-cô (14:12) và Lu-ca (22:7-8), bữa Tiệc Ly là tiệc lễ Vượt Qua, trong đó người ta dùng bánh nướng không men để tưởng nhớ ngày dân Do-thái phải vội vă lên đường trốn ra khỏi Ai-cập, họ không có đủ thời giờ để chờ bột dậy men rồi đem nướng. Dùng bánh không men là cách để nhắc nhở việc ấy.

2. Vào thế kỷ thứ XII, việc tôn kính Thánh Thể trở nên phổ biến và được thực hiện một cách tỉ mỉ. Người ta cố giữ làm sao không cho một mẩu vụn bánh nào rơi xuống đất. Bánh không men được xét là thích hợp hơn để dâng thánh lễ v́ ít bở hơn và nhẹ hơn bánh có men. Vả lại, với bánh không men, người ta làm được dễ dàng những tấm bánh trắng và đẹp, dấu chỉ sự tinh tuyền của lễ vật chúng ta dâng. Hơn nữa, với bánh không men, người ta dễ làm các bánh nhỏ dành cho giáo dân.

3. Thánh lễ là dấu chỉ của sự hiệp nhất. Do Giáo Hội Đông Phương vẫn duy tŕ bánh không men, nên việc chúng ta cũng dùng bánh không men để biểu lộ sự hợp nhất với các Kitô hữu Đông Phương.

4. Thánh lễ không phải là bữa tiệc như những bữa tiệc khác. Dùng loại bánh đặc biệt nói lên tính chất đặc thù của bữa tiệc Thánh Thể.

Phải cẩn thận lo sao cho bánh và rượu lễ được giữ luôn trong t́nh trạng tốt, nghĩa là coi chừng kẻo rượu ra chua hay bánh bị hư, trở nên quá cứng, khó bẻ.

 

23. Tại sao chủ tế đổ ít nước vào rượu?

Ngày xưa, tại các xứ vùng biển Địa Trung Hải, người ta có thói quen pha một chút nước vào rượu để giảm bớt độ nặng và gắt của rượu.  Vào bữa Tiệc Ly phải chăng Chúa Giêsu đă pha chút nước vào rượu nho? Có thể như vậy, tuy không có một tài liệu nào xác quyết việc này cả. Nghi thức này có ư nghĩa rất hay: đó là dấu chỉ mối liên quan chặt chẽ giữa thần tính và nhân tính trong Chúa Kitô; đồng thời, là sự liên kết chặt chẽ của chúng ta (tượng trưng bởi nước) với Chúa Kitô (rượu nho) làm thành lễ vật dâng trong Thánh lễ. Chúa Kitô không tự hiến tế một ḿnh, nhưng liên kết với Giáo Hội mà chính Người là đầu.

Ư nghĩa phong phú của các biểu tượng này được thể hiện trong lời cầu nguyện của vị chủ tế khi pha chút nước vào rượu nho: “Cũng như giọt nước này ḥa chung với rượu, xin cho chúng con được thông phần bản tính Thiên Chúa của Đấng đă đoái thương chia sẻ thân phận làm người với chúng con”.

 

24. Tại sao chủ tế lại rửa tay cuối phần Dâng lễ?

Vị chủ tế rửa tay để chuẩn bị cầm bánh và rượu sẽ được truyền phép để trở nên Ḿnh và Máu Chúa Kitô. Nghi thức rửa tay đă có từ thế kỷ thứ IV. Vào thời kỳ này, người ta c̣n đem đến cho vị chủ tế không những bánh và rượu để được truyền phép, mà cả những sản phẩm cần dùng khác để các thầy phó tế phân phát cho người nghèo sau thánh lễ. Tuy nhiên ngay từ đầu, nghi thức rửa tay luôn có một ư nghĩa thiêng liêng, đó là dấu hiệu của việc thanh tẩy trong tâm hồn, v́ nước là dấu chỉ của sự thanh tẩy. Khi rửa tay, vị chủ tế đọc lời Thánh vịnh 50, câu 4: “Lạy Chúa, xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội con đă phạm, xin Ngài thanh tẩy”.

 

25. Tại sao chủ tế bỏ một miếng bánh thánh nhỏ vào chén thánh?

Sau khi bẻ bánh thánh, ngay trước lúc rước lễ, linh mục bỏ một mẫu bánh thánh nhỏ vào trong chén thánh. Giáo Hội vẫn giữ lại nghi thức này v́ muốn trung thành với truyền thống. Có hai cách giải thích:

1. Nghi thức này có thể liên quan đến thời gian đầu của Giáo Hội. Các mẫu bánh thánh trong thánh lễ của Đức Giáo Hoàng được phân chia cho các cha xứ tại các nhà thờ nội thành Rôma. Những vị này không thể đến dự lễ Đức Giáo Hoàng cử hành do phải dâng lễ cho giáo dân. Việc chia bánh thánh này muốn diễn tả sự hợp nhất của linh mục đoàn thành Rôma với vị giáo hoàng của ḿnh.

2. Cũng có thể cho rằng đây là những bánh thánh được giữ lại để cho những người bệnh và những người hấp hối rước lễ, bằng cách nhúng vào rượu thánh cho mềm bớt để chịu lễ cho dễ dàng hơn.

Ngày nay, người ta thường nói đến ư nghĩa tượng trưng của bánh thánh và rượu thánh. Giới thiệu ḿnh và máu, như Chúa Giêsu đă làm ở bữa Tiệc Ly, theo năo trạng của người Do-thái, là gợi lên sự chết, v́ sự sống (tượng trưng bởi máu) không ở trong xác thịt nữa. Do đó, ḥa lẫn Ḿnh Thánh và Máu Thánh trong chén thánh để diễn tả rằng Chúa Kitô hằng sống. Vả lại, khi nh́n bánh và rượu trên bàn thờ, chúng ta nghĩ ngay đến bữa ăn, dấu chỉ của sự sống.

Khi bỏ một mẫu bánh thánh nhỏ vào trong chén thánh, chủ tế đọc nhỏ: “Xin Ḿnh và Máu Chúa Giêsu Kitô ḥa lẫn với nhau mà chúng con sắp lănh nhận cho chúng con được sống muôn đời.”