Bài 5.  Sám Hối - Thánh Vịnh - Tin Mừng - 3 dấu Thánh Giá

 

Kinh Tin Kính - Lời Nguyện Giáo dân - Quyên tiền

 

14. Tại sao có nghi thức sám hối trong phần đầu của Thánh Lễ?

       Nghi thức này cần thiết v́ chúng ta cần hoà giải với tha nhân trước khi dâng Lễ theo như lời Chúa giảng dậy (Mt.5:23-24) và Chúa chỉ tha thứ cho ta khi ta đă tha cho nhau (Mt.6:14-15). Hơn nữa, trong sách Didache (Giáo huấn của các Tông Đồ) tả trong chương 14:1 như sau: “Vậy ngày Chúa nhật anh em hăy họp nhau lại, bẻ bánh và tạ ơn Chúa, sau khi đă thú tội, để của lễ anh em dâng được tinh tuyền. Những ai có điều ǵ bất b́nh với bạn hữu, đừng có đến họp với anh em, trước khi làm ḥa, kẻo của lễ của anh em bị tục hóa”

 

15. Lời Thánh vịnh có vai tṛ ǵ?

       Lời Thánh vịnh (hoặc Lời thánh ca trích trong Kinh Thánh) được chọn theo ư tưởng của bài đọc I. Đó là sự đáp lại của cộng đoàn đối với Lời Chúa mà cộng đoàn vừa nghe (v́ thế có tên là Đáp ca hay Thánh vịnh đáp ca) Thông thường, Thánh vịnh và đặc biệt là câu đáp của Thánh vịnh, lặp lại một lời hay một ư nào đó vừa được công bố. Thí dụ, nếu bài đọc I mời gọi lắng nghe tiếng Chúa và thực hành những giáo huấn của Người, th́ hầu như như câu đáp của Thánh vịnh sẽ là : “Lạy Chúa, Lời Ngài là chân lư, và luật Ngài là sự giải thoát cho chúng con”.

 

16. Tại sao phải đứng lên khi nghe công bố Tin Mừng?

       Trong thánh lễ, cộng đoàn ngồi khi nghe đọc hai bài Sách Thánh đầu tiên cũng như khi hát hoặc đọc Thánh vịnh. Nhưng chúng ta đứng lên khi nghe công bố Tin Mừng, v́ là bài đọc quan trọng hơn cả. Các bài Tin Mừng chứa đựng chính lời của Chúa Giêsu. Khi linh mục đọc Tin Mừng trong thánh lễ nghĩa là chính Chúa Kitô đang hiện diện và nói với chúng ta. Tin Mừng thuật lại các việc và hành động của Chúa Giêsu. Do đó, khi nghe công bố Tin Mừng, chúng ta đứng lên để tỏ ḷng tôn kính Chúa Giêsu, tôn kính những giáo huấn của Người, cũng như mọi việc Người làm.

 

17. Tại sao phải làm tới ba dấu thánh giá trước khi nghe Tin Mừng?

       Khi linh mục công bố Tin Mừng, chúng ta tuần tự làm một dấu thánh giá trên trán, một trên môi miệng và một trên ngực. Tập tục này có từ thế kỷ thứ XI và mang nhiều ư nghĩa phong phú. Làm ba dấu thánh giá như thế để xin Chúa ban ơn cho Lời Tin Mừng mà chúng ta sắp nghe, bám rễ sâu trong trí khôn, biết chia sẻ ra ngoài môi miệng và cư ngụ trong tâm hồn. Chúng ta cũng xin cho trí tuệ của ḿnh được soi sáng để thông hiểu Lời Chúa và đem ra thực hành trong đời sống.

 

18. Bài giảng có cần thiết không?

      Chủ tế không được bỏ bài giảng ngày Chúa nhật và Lễ buộc, trừ khi có lư do quan trọng. Bài giảng trong Lễ là một phần di sản mà Giáo hội tiếp nhận từ đạo Do Thái. Vào thời Chúa Giêsu, ngày Sabbat người Do thái họp lại để nghe sách  Luật và tiên tri, sau đó lả những lời dẫn giải.    Chúa Giêsu và các Tông đồ cũng đă diễn giải như vậy trong các Hội đường. Do đó bài giảng là thành phần của phụng vụ, cần thiết để nuôi dưỡng đời sống Kitô hữu.

 

19. Tại sao đọc kinh Tin Kính?

       Trong thánh lễ, một trong những giây phút liên hệ chặt chẽ với Lời Chúa, đó là lúc đọc kinh Tin Kính. Kinh này được đọc trong các lễ Chúa nhật và lễ Trọng như là sự chấp nhận và đáp lại Lời Chúa mà giáo dân đă nghe trong các bài đọc và bài giảng. Kinh Tin Kính tóm tắt tất cả các điều căn bản của Đức Tin Kitô giáo. Đọc kinh Tin Kính là dấu chỉ nh́n nhận các Tín điều đó.

 

20. Đâu là ư nghĩa của Lời nguyện giáo dân?

       Tiếp sau phần tuyên xưng Đức Tin là phần lời nguyện giáo dân. Đây là lúc Cộng đoàn dâng lên Thiên Chúa những lời cầu xin, khẩn nguyện  và tạ ơn, không những cho Giáo Hội, cho cộng đoàn, cho những người tham dự thánh lễ, mà c̣n cho tất cả mọi người, như lời khuyên của thánh Phaolô (1Tm 2:1). Trong lời nguyện giáo dân, chúng ta để con tim của ḿnh cùng rung nhịp với mọi tạo vật, với mọi chiều kích của vũ trụ để cảm thông sự khổ đau, lao nhọc và hy vọng của nhân loại. Chúng ta  khẩn cầu Thiên Chúa đổ ơn dồi dào trên các tạo vật của Người. Những ư chỉ thông thường trong Lời nguyện giáo dân là: a/ cho các nhu cầu của Hội thánh -  b/ cho chính quyền và cho thế giới được ơn cứu độ - c/ Cho các người đang gặp bất cứ khó khăn nào -  c/ cho cộng đoàn địa phương .

 

21. Quyên tiền có phải là nghi thức thừa thăi không?

       Một số người không thích quyên tiền trong các Thánh lễ Chúa nhật, v́ việc ấy làm chia trí trong lúc cầu nguyện. Phải chăng đó là hành vi quá vật chất và trần tục trong khung cảnh hoàn toàn thiêng liêng?  Quyên tiền là một nghi thức rất cổ xưa và là sự tổng hợp của hai cách thực hành đă có từ buổi đầu của Kitô giáo:

a/ Ư nghĩa thứ nhất: trước đây các tín hữu đem bánh và rượu đến để dâng Thánh lễ. Các lễ vật này được rước kiệu lên bàn thờ, được chủ tế đón nhận để dâng lên Thiên Chúa. Đó là nguồn gốc của phần Dâng Lễ và lời nguyện tiến lễ (lời nguyện trên lễ vật). Từ thế kỷ thứ IX, v́ việc nhận lễ vật bằng tiền mặt có vẻ tiện lợi hơn, nên việc rước kiệu lễ vật được thay thế bằng việc quyên tiền. Việc quyên tiền này thực hành trong Thánh lễ là dấu chỉ sự tham dự tích cực của mọi tín hữu vào Thánh lễ, giống như ḿnh nói: “Lạy Chúa đây là lễ vật của con.” Nghi thức kiệu lễ vật trong Thánh lễ, hiện vẫn c̣n được thực hiện tại một vài miền và vào các dịp lễ lớn, giữ lại dấu vết của tục lệ cổ xưa.

b/ Ư nghĩa thứ hai: t́nh liên đới giữa các phần tử trong cộng đoàn Kitô hữu được cổ vũ ngay từ thời sơ khai để cung cấp cho những nhu cầu của Giáo Hội và của người nghèo.

       Do đó, việc quyên tiền trong Thánh lễ là một trong những phương cách thể hiện ḷng biết ơn đối với Thiên Chúa và t́nh liên đới với tha nhân.