Bài 4. Dấu Thánh Giá - Amen - Đối diện – Chọn Bài Đọc

 

10. Dấu thánh giá mang ư nghĩa ǵ?

Thánh lễ bắt đầu bằng dấu thánh giá, là một trong những dấu hiệu tuyệt hảo của Kitô giáo. Khi làm dấu thánh giá, chúng ta nhận biết ḿnh thuộc về Chúa Kitô và bày tỏ niềm tin của chúng ta vào Chúa Kitô đă chết trên thánh giá v́ chúng ta. Thật vậy, thánh giá là dấu chỉ ơn cứu độ. Dấu thánh giá c̣n nhắc chúng ta về bí tích Thánh Tẩy của ḿnh, bởi chúng ta đă được rửa tội “nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”. Đó là lư do các Kitô hữu thường làm dấu thánh giá và luôn luôn bắt đầu một nghi thức phụng vụ bằng dấu thánh giá.

 

11. Amen nghĩa là ǵ?

Trong Thánh lễ, nhiều lần bạn đáp Amen sau những lời nguyện mà linh mục chủ tế đọc.

Amen là một chữ Do-thái. Thời Cựu Ước họ thường dùng Amen để kết thúc lời cầu nguyện của họ. Chúa Kitô cũng đă sử dụng, không những lúc Người cầu nguyện, mà c̣n cả trong lúc giảng dạy để nhấn mạnh, làm nổi bật chân lư Người nói : “Amen – Thật – Ta bảo thật các ngươi…” Trước kia, sau các lời nguyện, người ta thưa “Ước ǵ được như vậy”. Bây giờ người ta thích dùng chữ Amen hơn, v́ “Ước ǵ được như vậy” không thể diễn tả hết được sự phong phú của chữ Amen.

     Khi thưa Amen, người ta không chỉ bày tỏ ước muốn được như vậy, mà c̣n xác nhận một điều chắc chắn. Đó là trường hợp khi vị linh mục công bố: “Ḿnh Thánh Chúa Kitô” và tín hữu thưa “Amen”. Chữ Amen ở đây có nghĩa “Vâng! Tôi xác tín Chúa Kitô đến ngự trong tôi dưới h́nh bánh này”. Đó là một điều chắc chắn !

     Hơn thế nữa, Amen diễn đạt đức tin của toàn cộng đoàn vào sự trung tín của Chúa. Người sẽ nhậm lời những ǵ cộng đoàn cầu xin với niềm tin tưởng. Bởi v́ căn gốc của chữ Do-thái này có ư nghĩa sự trung thành, trung tín. Như thế, khi thưa Amen, chúng ta tung hô sự trung tín của Chúa, như lời thánh Phaolô: “Xin Thiên Chúa là Đấng trung tín chứng giám cho rằng lời nói của chúng tôi đối với anh em, không phải là vừa “Có” lại vừa “Không”. Quả thế, Con Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô, Đấng mà chúng tôi đă rao giảng nơi anh em, [...], nơi Người chỉ là “Có” mà thôi. Bởi chưng bao nhiêu lời hứa của Thiên Chúa đă thành “Có” ở nơi Người. V́ thế nhờ Người mà chúng tôi hô lên lời “Amen” tôn vinh Thiên Chúa” (2Cor 1:18-20).

 

12. Tại sao, sau Công Đồng Vaticanô II, linh mục chủ tế lại đứng đối diện với cộng đoàn?

Thời thượng cổ, hầu hết các nhà thờ được xây hướng về phía đông, hướng mặt trời mọc, nơi tượng trưng cho sự Sống Lại.  Sau Công Đồng Vaticanô II, linh mục chủ tế không quay lưng về phía cộng đoàn như theo truyền thống nữa, mà quay mặt về cộng đoàn trong suốt thánh lễ. Thông thường, chúng ta đối diện với người nào đó khi nói chuyện. Do đó thật là hợp lư khi linh mục chủ tế hướng về cộng đoàn : chào đầu lễ, bài giảng… Khi linh mục công bố Tin Mừng, chính là Chúa Kitô nói với dân Người.

Nhưng khi cầu nguyện th́ sao? Khi cầu nguyện, tất cả cùng thưa với Chúa. Thật ra, bàn thờ được đặt giữa linh mục và cộng đoàn. Sự sắp đặt vị trí như thế có nghĩa là : Chúa không ở trước mặt chúng ta, nhưng ở giữa chúng ta, như lời hứa của Chúa Kitô: “Ở đâu có hai, ba người họp lại nhân danh Thầy, th́ có Thầy ở giữa họ.” (Mt 18:20). Thánh Phaolô có nói: “Đức Kitô ở giữa anh em, Người là niềm hy vọng vinh quang !” (Col 1:27).

 

13. Các bài đọc được chọn lựa như thế nào?

Trong thánh lễ ngày Chúa nhật, có ba bài đọc: bài đọc I trích từ Cựu Ước (trừ Mùa Phục Sinh, v́ từ Chúa nhật Phục Sinh cho đến Chúa nhật Chúa Thánh Thần hiện xuống, chúng ta nghe đọc sách Tông Đồ Công Vụ), bài đọc II thường là một đoạn thư của thánh Phaolô hay của một Tông Đồ khác, c̣n bài đọc III th́ luôn luôn là một đoạn Tin Mừng (Phúc Âm).

Các bài đọc Cựu Ước kể cho chúng ta nghe công tŕnh của Thiên Chúa trước khi Chúa Kitô giáng trần. Bài Tin Mừng thuật lại các việc làm, cử chỉ và giáo huấn của Chúa Giêsu. C̣n bài đọc II cho chúng ta biết tư tưởng và đời sống của các Kitô hữu tiên khởi.

Trong Thánh lễ các ngày Chúa nhật Mùa Vọng, Mùa Chay và Mùa Phục Sinh, cũng như các ngày lễ trọng (Giáng Sinh, Chúa Thánh Thần hiện xuống…), cả ba bài đọc đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về tư tưởng. Một sứ điệp được công bố dưới ba khía cạnh khác nhau.

C̣n vào các ngày Chúa nhật khác mà ta gọi là Chúa nhật Thường Niên hay Quanh Năm, bài đọc I được chọn hợp với ư nghĩa của bài Tin Mừng. Mục đích để làm nổi bật sự hợp nhất của Cựu Ước và Tân Ước, của lịch sử cứu độ mà Chúa Kitô là trung tâm. Nếu có liên hệ tư tưởng với bài đọc II, th́ chỉ là t́nh cờ mà thôi, v́ bài đọc II theo một chu kỳ riêng biệt.

Các bài đọc được sắp xếp không theo thứ tự thời gian, nhưng theo ư nghĩa thần học và có tính cách sư phạm: trước tiên chúng ta nghe chứng từ của các bậc tiền bối trước thời Chúa Giêsu (bài đọc Cựu Ước); kế tiếp, chứng từ của các vị đă tiếp nhận sự mạc khải của Chúa Kitô phục sinh (bài đọc Tân Ước); và sau cùng là lời của chính Chúa Kitô (Tin Mừng).

Trước Công Đồng Vaticanô II, chỉ có hai bài đọc và được lặp lại mỗi năm. Bây giờ, trong mỗi thánh lễ Chúa nhật, chúng ta có ba bài đọc, được đọc lại sau một chu kỳ ba năm có tên năm A, năm B, năm C.

Năm A đọc Tin Mừng theo thánh Mátthêu - Năm B, thánh Máccô  -  Năm C, thánh Luca.

C̣n Tin Mừng theo thánh Gioan được đọc mỗi năm trong Mùa Chay và Mùa Phục Sinh. Như vậy, Giáo Hội cho đọc nhiều bài Thánh Kinh hơn trước rất nhiều. Chúng ta có thể nghe gần như trọn vẹn sách Tin Mừng.

Thánh lễ trong tuần chỉ có hai bài đọc: bài đọc I trích từ Cựu Ước hoặc Tân Ước (trừ Tin Mừng), bài đọc II luôn là một đoạn Tin Mừng, được phân phối như sau: trong các tuần 1-9 Quanh Năm, đọc Tin Mừng theo thánh Mác-cô; trong các tuần 10-21, theo thánh Mát-thêu; và trong các tuần 22-34, theo thánh Lu-ca. Trong các Mùa khác, bài Tin Mừng được chọn theo tính chất đặc biệt của mỗi Mùa.

Trong Mùa Thường Niên, bài đọc I có chu kỳ hai năm (năm chẵn và năm lẻ), bài đọc II (Tin Mừng) có chu kỳ một năm. Các Mùa khác, bài đọc I và II đều có chu kỳ một năm.