Bài 3. Ngày Cử Hành - Phẩm Phục - Nước Thánh - Hát Nhập Lễ - Bàn Thờ

 

5. Tại sao Giáo Hội buộc dự Lễ Chúa Nhật mà không phải Thứ Năm, ngày Chúa Lập Bí Tích Thánh Thể?

     Chúa nhật là ngày ưu tiên để cử hành Thánh lễ, v́ đó là ngày Chúa Phục Sinh. Và Thánh lễ chỉ có thể cử hành khi Chúa Kitô đă sống lại. Thánh Phaolô có nói: “Nếu Chúa Kitô không sống lại, th́ lời giảng dạy của chúng tôi là hư vô và đức tin của anh em là mơ hồ” (1Cor 15:14). Nói cách khác, nếu Chúa Kitô không sống lại, th́ không có đức tin, không có Giáo Hội và cũng không có các bí tích.

     Như thế, cử hành Thánh lễ ngày Chúa nhật có một ư nghĩa thần học rất quan trọng. Thánh lễ không phải là sự lặp lại của bữa Tiệc Ly. Cử hành Thánh lễ ngày Chúa nhật xác định rằng đó là sự tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa Kitô. Chính trong buổi tối Phục sinh mà hai môn đệ, trong nhà trọ tại làng Emmau, đă nhận ra Chúa Sống Lại khi Người bẻ bánh (Lc 24:13-35).

     Sau cùng, Chúa nhật là ngày toàn Dân Chúa dâng lời tạ ơn, tán tụng lên Thiên Chúa, cảm tạ Người đă chiến thắng sự chết.

 

6. Đâu là ư nghĩa của màu sắc các phẩm phục phụng vụ?

Mỗi màu sắc mang một ư nghĩa:

Màu tím, màu của sự ăn năn, thống hối và của sự mong đợi, được dùng trong Mùa Chay và Mùa Vọng. Và trong Thánh Lễ cầu cho những kẻ đă qua đời.

Màu đỏ là màu máu và lửa, được dùng trong ngày Chúa nhật Thương khó (lễ Lá), thứ Sáu Tuần Thánh, Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, trong các cử hành cuộc thương khó của Chúa, trong lễ kính các thánh Tông đồ, các thánh sử Tin Mừng và trong các lễ kính các thánh tử đạo.

Màu trắng (có thể được thay thế bằng màu vàng) gợi lên sự trong sạch, tinh tuyền, nhất là vinh quang của Thiên Chúa, được dành cho các nghi thức phụng vụ và các thánh lễ Mùa Phục Sinh và Mùa Giáng Sinh; cũng dùng trong các lễ kính, lễ nhớ về Chúa không phải là lễ kính nhớ cuộc thương khó của Người ; các lễ kính Đức Mẹ, các thiên thần, các thánh không phải là thánh tử đạo. Màu trắng c̣n diễn đạt sự phục sinh của Chúa Kitô cũng như sự phục sinh của chúng ta sau này. Nơi bàn tiệc thiên quốc những người được tuyển chọn đều mặc y phục trắng toát (Kh. 7:9)

Màu xanh lá cây được dùng trong các thánh lễ trong Mùa Thường Niên hoặc Quanh Năm. Màu xanh lá cây là màu của niềm hy vọng và của sự sống. Điều này cho chúng ta biết ḿnh là những người có niềm hy vọng lớn lao, là đoàn lữ hành đang được Chúa Kitô dẫn đến những cánh đồng cỏ xanh tươi của miền đất hứa.

Màu hồng được sử dụng hai lần trong năm (Chúa nhật III Mùa Vọng và Chúa nhật IV Mùa Chay) để mời gọi tín hữu hưởng niềm vui thầm kín và an lành trong niềm trông đợi Đấng Cứu Tinh hoặc trong sự chuẩn bị đón mừng Chúa Kitô phục sinh.

 

7. Tại sao khi bước vào nhà thờ, người ta làm dấu thánh giá với nước thánh?

     B́nh nước thánh đặt nơi cửa nhà thờ mời gọi người tín hữu lấy tay chấm nước thánh và làm dấu thánh giá để nhắc họ nước của bí tích Thánh Tẩy.

     Trong đêm Phục sinh, nghi thức rảy nước thánh đi kèm với việc cộng đoàn lặp lại lời tuyên hứa khi lănh nhận bí tích Thánh Tẩy.

     Nghi thức an táng cũng dùng nước thánh để nhắc nhở rằng bí tích Thánh Tẩy mở đường và dẫn đến đời sống vĩnh cửu: những người tham dự được mời rảy nước thánh để tỏ cử chỉ thân thiện và niềm hy vọng.

 

8. Tại sao Thánh lễ thường bắt đầu bằng một bài hát?

     Ca hát là cách diễn tả thông thường của bất cứ lễ hội nào. Và việc gặp gỡ Thiên Chúa luôn luôn là một lễ hội. Bài hát nhập lễ nhằm xóa tan sự lạnh lùng của mỗi người chúng ta và kết hợp chúng ta thành một cộng đoàn t́nh thương và sống động.

     Hát là dấu chỉ niềm hân hoan trong tâm hồn. Chúng ta hát để diễn tả sự hiệp nhất của cộng đoàn tham dự và để nói lên rằng chúng ta vui sướng được gặp lại nhau, như Thánh vịnh 132 đă biểu lộ:“Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, Anh em được sống sum vầy bên nhau!”

     Niềm vui này phải được diễn tả cụ thể trong nghi thức đầu tiên của Thánh lễ là sự tập họp của đoàn dân Chúa.

 

9. Tại sao linh mục cúi hôn bàn thờ ?

     Bàn thờ là nơi quan trọng nhất của nhà thờ, là trung tâm điểm của phụng vụ Thánh Thể.
Sở dĩ bàn thờ được coi là quan trọng, v́ đó là nơi Thiên Chúa và con người gặp gỡ, liên kết với nhau, là nơi mà Thiên Chúa đến với loài người và loài người đến với Thiên Chúa. Bàn thờ cũng tượng trưng cho Chúa Kitô, mối giao tiếp tuyệt hảo của sự gặp gỡ giữa con người với Thiên Chúa, bởi v́ trong ngôi vị của Chúa Kitô, vừa có bản tính Thiên Chúa, vừa có bản tính loài người.

Hơn nữa, Tân Ước xác quyết rằng Chúa Giêsu là “viên đá góc tường” dựa trên đó tất cả được xây dựng (Ep 2:20). Do đó, bàn thờ bằng đá hoặc chứa đựng một viên đá trên đó biểu tượng cho Chúa Kitô.

     Đối với người Do-thái, bàn thờ vừa là nơi tế lễ, vừa là chỗ thiết tiệc, là nơi mà con cái Thiên Chúa được nuôi dưỡng và giải khát.

     Nếu bàn thờ có ư nghĩa phong phú như thế, bạn đừng lấy làm lạ khi thấy vị linh mục cúi hôn bàn thờ lúc bắt đầu Thánh lễ. Đó là cử chỉ tôn kính đối với Chúa Kitô và đối với hy lễ của Người.